[chitiet]

Ông nội tôi có một thửa đất, khi đi làm sổ đỏ thì ông chỉ ghi tên ông mà không ghi tên bà nội. Sau khi ông mất (chưa kịp sang tên đất và không có di chúc) thì bà nội bán thửa đất đó cho ông A. Khi lên địa chính hỏi làm sổ đỏ cho ông A thì được trả lời sẽ rất khó khăn khi sang tên làm sổ đỏ.
Bà nội tôi có 5 người con. Luật sư cho hỏi, trường hợp của nội tôi vậy thì có bán và làm sổ đỏ thửa đất đó cho ông A được không? Cần những giấy tờ, thủ tục gì? Mong luật sư giải đáp giúp. Xin cảm ơn.
Thắc mắc về tài sản thừa kế khi không có di chúc
maihuong10122011@...
Luật sư Phạm Thị Bích Hảo, Giám đốc Công ty luật TNHH Đức An trả lời bạn như sau:
Như thông tin bạn cung cấp, ông nội bạn là người đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay, ông nội bạn đã mất, bà bạn muốn chuyển nhượng ngôi nhà cho người khác. Do bạn không nêu rõ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản riêng hay tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nên chia làm hai trường hợp:
1. Quyền sử dụng đất của ông nội bạn là tài sản riêng của ông nội bạn. 
Do đó, khi ông nội bạn qua đời mà không để lại di chúc thì mảnh đất và ngôi nhà này sẽ được chia theo pháp luật, tức chia cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất, bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết (theo điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015).
2. Quyền sử dụng đất hình thành trong thời kỳ hôn nhân
Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng…”.
Như vậy, trường hợp quyền sử dụng đất hình thành trong thời kỳ hôn nhân (không thuộc trường hợp tặng cho riêng hay thừa kế riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng) thì quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng ông nội bạn.
Khi ông nội bạn qua đời mà không để lại di chúc thì một nửa giá trị mảnh đất và căn nhà này sẽ thuộc về bà bạn, còn một nửa còn lại sẽ thuộc về ông nội bạn. Phần tài sản thuộc quyền sở hữu của ông nội bạn sẽ được chia thừa kế theo pháp luật, tức chia cho bà bạn, bố và mẹ của ông nội bạn.
Như vậy, ở cả hai trường hợp trên, bà bạn đều phải thực hiện khai nhận di sản thừa kế của ông nội bạn. Sau đó, bà bạn có thể thỏa thuận với những người đồng thừa kế về việc sẽ nhận toàn bộ mảnh đất. Thỏa thuận về sự phân chia này phải được lập thành văn bản được công chứng.
Sau khi bà bạn thực hiện xong việc khai nhận di sản thừa kế thì bà bạn thực hiện việc sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà bạn được công nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất này và quyền sở hữu nhà thì bà  bạn mới có thể thực hiện việc chuyển nhượng căn nhà cho người khác.
Về thủ tục sang tên quyền sử dụng đất, cần chuẩn bị một bộ hồ sơ gửi đến Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện. Hồ sơ gồm:
- Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;
- Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp;
- Văn bản khai nhận di sản thừa kế (có công chứng nhà nước).
[/chitiet]

Nhận xét

Có thể bạn quan tâm